Luật chuyển giao công nghệ năm 2017

Luật chuyển gia công nghệ năm 2017 (Luật CGCN năm 2017) được Quốc hội thông qua ngày 19/6/2017, sẽ có hiệu lực vào ngày 1/7/2018, thay thế Luật chuyển giao công nghệ năm 2006. 

Luật CGCN năm 2017 gồm 6 Chương, 60 Điều, cụ thể:

Chương I - Những quy định chung;

Chương II - Thẩm  định công nghệ dự án đầu tư;

Chương III - Hợp đồng CGCN;

Chương IV - Biện pháp khuyến khích CGCN, phát triển thị trường KH&CN;

Chương V - Quản lý nhà nước về CGCN;

Chương VI - Điều khoản thi hành.

Luật CGCN năm 2017 tập trung  chủ yếu vào việc bổ sung cơ chế hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng, đổi mới công nghệ; sửa đổi quy định về thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Đặc biệt, Luật bổ sung giải pháp phát triển thị trường khoa học và công nghệ; quy định về chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp; sửa đổi quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về chuyển giao công nghệ. Các nội dung chính,cơ bản  biểu hiện vào 5 nhóm vấn đề lớn:

1. Một là, chính sách của nhà nước đối với hoạt động chuyển giao công nghệ (CGCN), thể hiện rõ tại Điều 3 Luật chuyển giao công nghệ 2017: Bao quát được một cách đầy đủ tất cả những định hướng, chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước, xu hướng cũng như tiếp cận hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó có yêu cầu của KH&CN. Đồng thời cũng lựa chọn, xử lý được những vấn đề phát sinh căn bản liên quan đến việc tạo hành lang thông thoáng cho doanh nghiệp, khuyến khích CGCN. Bên cạnh đó, các quy định về kiểm soát được thực trạng công nghệ và ngăn chặn công nghệ lạc hậu để đảm bảo phát triển xanh và bền vững đất nước cũng được đặt ra.
2. Hai là, nhóm vấn đề về quản lý CGCN, quản lý công nghệ thông qua khuyến khích chuyển giao công nghệ, hạn chế chuyển giao và cấm chuyển giao. Quy định như vậy vẫn đảm bảo “tính  thông thoảng “ như  quy định tại Luật chuyển giao công nghệ  năm 2006  nhưng vẫn kiểm soát được trong tinh hình kinh tế xã hội đất nước hiện nay. Các quy định về hợp đồng CGCN cũng được cụ thể chi tiết hơn, rõ ràng và phù hợp với xu thể hội nhâp quốc tế như việc: Chủ thể ký kết không bị giàng buộc bởi giao dịch tại Việt Nam thì phải có hợp đồng bằng tiếng Việt.
3. Ba là, công tác thẩm định công nghệ dự án đầu tư. Lần đầu tiên, Luật đã giành  01 chương tập trung giải quyết căn cơ yêu cầu về công tác thẩm định CGCN.
4. Bốn là, biện pháp khuyến khích thúc đẩy CGCN, giải pháp phát triển thị trường công nghệ một cách đồng bộ. Với tinh thần đưa Luật CGCN 2006 vào cuộc sống đã đáp ứng rất tốt với những yêu cầu hội nhập quốc tế  nhưng lại phải đặt ra yêu cầu trường hợp nước ta làquốc gia đang phát triển thì phần công nghệ nội sinh cần làm sao để hoàn thiện, nhập các công nghệ nước ngoài thế nào để phù hợp, phục vụ cho nền kinh tế,… gần như chưa đáp ứng được. Thì đến Luật CGCN 2017 đã đưa ra các giải pháp sửa đổi, bổ sung đó, đáp ứng những yêu cầu căn bản  thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, cơ chế hỗ trợ và khuyến khích các doanh nghiệp ứng dụng, đổi mới công nghệ.
5. Thứ năm là trách nhiệm quản lý nhà nước đối với CGCN trong tất cả yêu cầu công việc, từ quản lý công nghệ, quản lý khuyến khích CGCN, cấm, hạn chế chuyển giao đến xem xét một cách thấu đáo trách nhiệm của các bộ, ngành, cơ quan liên quan trong thẩm định công nghệ của dự án đầu tư.

Download file để xem chi tiết cụ thể các quy định Luật CGCN 2017.

Kim Oanh - Chuyên viên pháp chế

© Tổng công ty Khánh Việt | 2015Đăng Nhập

Chịu trách nhiệm quản lý nội dung: Lê Tiến Anh - Chủ tịch Hội đồng Thành viên kiêm Tổng Giám đốc Tổng công ty Khánh Việt